Tin mới
Thứ Tư, 13 tháng 4, 2016

Hệ tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn lao động

Hệ tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn lao động - Trong thời gian qua, sự nỗ lực của các cấp, các ngành và địa phương trong việc giải quyết việc làm cho người lao động đã mang lại những thành công nhất định. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn những khó khăn thách thức cần được giải quyết, nhất là cần có những tiêu chí để đánh giá chất lượng lao động, vấn đề giải quyết việc làm và các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng nguồn lao động, giải quyết việc làm tại địa phương.



* Thể lực: Thể lực của người lao động được phản ánh qua các tiêu chí:
Tiêu chuẩn phân loại theo thể chất của nguồn lao động
Loại sức khỏe
NAM
NỮ
Chiều cao (cm)
Cân nặng (kg)
Vòng ngực (cm)
Chiều cao (cm)
Cân nặng (kg)
Vòng ngực (cm)
1
160 trở lên
50 trở lên
82 trở lên
155 trở lên
45 trở lên
76 trở lên
2
158-162
47-49
79-81
151-154
43-44
74-75
3
154-157
45-46
76-78
147-150
40-42
72-73
4
150-153
41-44
74-75
143-146
38-39
70-71
5
Dưới 150
Dưới 40
Dưới 74
Dưới 143
Dưới 38
Dưới 70
 Nguồn: Quyết định số 1613/BYT-QĐ của Bộ Y tế [1]
- Chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, chỉ tiêu về tình trạng bệnh tật (các giác quan nội khoa, ngoại khoa, thần kinh, tai, mũi, họng…) của người lao động.
- Các chỉ tiêu về cơ sở vật chất, các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, các chỉ tiêu về tỷ lệ sinh tử, suy dinh dưỡng, tỷ lệ biến động tự nhiên, cơ cấu giới tính của quốc gia, khu vực.
* Trí lực: Tri thức là yếu tố cơ bản để đánh giá trí lực của người lao động. Tri thức bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả hay kỹ năng có được nhờ giáo dục và sự trải nghiệm trong cuộc sống của con người. Việc nắm vững được những tri thức cơ bản, giúp người lao động gặp được nhiều thuận lợi trong công việc, có khả năng cao trong phân tích, giải quyết các vấn đề. Như vậy, trí lực là sự kết tinh, chọn lọc, sự tiếp nhận có lựa chọn của tri thức và biến tri thức thành cái riêng của mình ở mỗi người lao động. Trí lực của người lao động thường được đánh giá theo các tiêu chí: 
Xem thêm: tranh cát theo yêu cầu
- Trình độ văn hóa: Trình độ văn hóa là sự hiểu biết của một người đối với kiến thức phổ thông. Đây là một chỉ tiêu vô cùng quan trọng, phản ánh chất lượng nguồn lao động cũng như trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Trình độ văn hóa của nguồn lao động được thể hiện qua các quan hệ tỷ lệ như: Số lượng và tỷ lệ người lao động biết chữ và chưa biết chữ; Số lượng và tỷ lệ người lao động học qua các bậc học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, trên đại học; Số năm đi học trung bình của nguồn lao động tính từ 25 tuổi trở lên.
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật: Trình độ chuyên môn là những kiến thức, kỹ năng thực hành cần thiết để thực hiện những yêu cầu của vị trí công việc đang đảm nhận trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp của nguồn lao động. Đây cũng là trình độ được đào tạo ở các trường chuyên nghiệp, chính quy. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ thể hiện qua các chỉ tiêu như: Số lượng và tỷ lệ lao động được đào tạo và chưa qua đào tạo; Số lượng và tỷ lệ lao động bậc Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học; Số lượng và tỷ lệ lao động trên Đại học; Trình độ kỹ thuật là thuật ngữ dùng để chỉ trình độ của bộ phận lao động được đào tạo từ các trường kỹ thuật, các kiến thức được trang bị riêng về các lĩnh vực kỹ thuật nhất định. 
* Kỹ năng mềm: Kỹ năng mềm chính là những khả năng liên quan đến sự lãnh đạo, huấn luyện, giao tiếp, hợp tác, sáng tạo, giải quyết vấn đề. Theo tổng hợp nghiên cứu của các nước và thực tế Việt Nam, top 10 kỹ năng quan trọng cho người lao động Việt Nam trong thời đại hiện nay là[2]: Kỹ năng học và tự học; Kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân; Kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm; Kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức và quản lý công việc; Kỹ năng lắng nghe; Kỹ năng thuyết trình; Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng giải quyết vấn đề; Kỹ năng làm việc nhóm; Kỹ năng thương thuyết, đàm phán. Việc trang bị trang đầy đủ, toàn diện những kỹ năng mềm góp phần bổ trợ và hoàn thiện hơn năng lực làm việc của người lao động và quyết định vị trí của người lao động trong một tập thể. Tất cả các yếu tố này giúp cho công việc và mối quan hệ trong công việc trở nên chuyên nghiệp hơn.
* Năng lực ngoại ngữ, tin học: Thông thạo ngoại ngữ đang dần trở thành một kỹ năng không thể thiếu, là tiêu chuẩn hàng đầu để các công ty lớn tuyển nhân viên cũng như cất nhắc vào những vị trí quản lý. Việc biết ngoại ngữ không những là yêu cầu tất yếu của lao động có kỹ thuật cao nhằm đáp ứng các quy trình công nghệ thường xuyên được đổi mới mà còn là một năng lực cần thiết trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cũng như ngoại ngữ, các nhà tuyển dụng luôn yêu cầu các ứng viên phải có kiến thức về tin học để sử dụng máy tính, các phần mềm văn phòng, sử dụng internet thành thạo. Người lao động cũng nên ý thức được rằng việc sử dụng máy tính và internet thành thạo sẽ là một công cụ hữu hiệu phục vụ không chỉ cho công việc mà cho cả cuộc sống hàng ngày, là chìa khóa mở ra nhiều cơ hội trong thời đại hiện nay.
Như vậy, việc thông thạo ngoại ngữ, tin học là chìa khóa quan trọng, giúp người lao động tiếp cận với nền tri thức tiên tiến, hỗ trợ đắc lực cho công việc. Một khi đã nắm vững ngoại ngữ, tin học cộng với năng lực chuyên môn tốt người lao động có thể hội nhập một cách dễ dàng vào thị trường lao động hơn.
* Phẩm chất tâm lý - xã hội của nguồn lao động: Những yếu tố liên quan đến ý thức của người lao động rất quan trọng, quyết định đến đặc điểm chung của người lao động và sự phát triển bền vững của từng doanh nghiệp nói riêng, của từng khu vực và quốc gia nói chung. Phẩm chất tâm lý - xã hội của người lao động có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công việc, đặc biệt là phong cách làm việc. Ngược lại những người kém hiểu biết thường chây ỳ, làm việc không nghiêm túc và hay vi phạm nội quy lao động.
* Các chỉ tiêu tổng hợp: Tổ chức phát triển Liên Hiệp Quốc đã khuyến nghị và đưa ra áp dụng nhiều phương pháp đánh giá chất lượng nguồn lao động. Trong đó phương pháp xác định chỉ số phát triển con người (HDI - Human Development Index) đã được sử dụng rộng rãi. Theo phương pháp này, sự phát triển của con người được xác định trên 3 phương diện: mức độ phát triển kinh tế, giáo dục và y tế. HDI có thang điểm tính từ 0,1 đến 1 và được xác định bởi các chỉ tiêu: Tuổi thọ bình quân của dân số; Tỷ lệ dân số biết chữ và số năm đi học của một người; Tổng sản phẩm quốc nội GDP/người. Tuy chỉ tiêu HDI không phản ánh toàn diện về chất lượng nguồn lao động của một quốc gia. Song đây là chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi trên thế giới để đo chất lượng con người nói chung với ưu điểm thuận lợi trong việc so sánh quốc tế.



[1] Quyết định số 1613/BYT-QĐ của Bộ Y tế về việc ban hành “Tiêu chuẩn phân loại sức khoẻ để khám tuyển, khám định kỳ” cho người lao động.

[2] Những kỹ năng mềm cần thiết cho người lao động Việt Nam, nguồn: bhttp://thuvien.kyna.vn.

  • Blogger Comments
  • Facebook Comments

2 nhận xét:

Item Reviewed: Hệ tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn lao động Rating: 5 Reviewed By: AEP LienHiep