Tin mới
Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Điều tra, phân tích tài nguyên du lịch sinh thái tỉnh Vĩnh Long

Phát triển du lịch là xu thế chung của toàn thế giới hiện nay bởi hiệu quả to lớn của “ngành công nghiệp không khói”. Du lịch ngày càng trở thành ngành kinh tế quan trọng vì hoạt động du lịch không những mang lại lợi ích kinh tế to lớn mà còn đem lại hiệu quả xã hội tích cực, có ý nghĩa quan trọng đối với tình hình phát triển của đất nước, địa phương. Việc đánh giá tiềm năng, hiện trạng khai thác tiềm năng du lịch tại một địa phương có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng và phát triển du lịch. Nhằm đánh giá đầy đủ tiềm năng các điểm du lịch phục vụ cho sự phát triển, đâu tư nâng cấp, tôn tạo giá trị tài nguyên và khai thác hiệu quả tiềm năng của các điểm du lịch ở địa phương.
Tour tham quan sông nước miệt vườn trên cù lao An Bình
Tour tham quan sông nước miệt vườn trên cù lao An Bình
            Vĩnh Long có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên mang đậm tính chất đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, có hai mùa mưa nắng rõ rệt trong năm, có địa hình đồng bằng phù sa châu thổ, chịu tác động trực tiếp của yếu tố sông với quá trình bồi lắng của phù sa, chia cắt của các cù lao sông từ đó làm nên một vườn cây cối tươi tốt, vườn cây ăn quả bốn mùa xanh tươi và một hệ thống sông ngòi chằng chịt. Bên cạnh đó Vĩnh Long còn có nhiều tài nguyên du lịch nhân văn như các miếu, đình, chùa, khu tưởng niệm, v.v. Ngoài ra, việc khai thác tài nguyên du lịch đã và đang phát triển với nhiều loại hình du lịch khác nhau, có sự kết hợp, liên kết giữa các điểm tài nguyên du lịch, đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất du lịch phụ vụ cho du khách ngày càng tốt hơn.

Điều tra, phân tích tài nguyên du lịch sinh thái tỉnh Vĩnh Long 

1.1. Vị trí địa lý
          Vĩnh Long có diện tích tự nhiên 1.479,128 km2 bằng 0,4% diện tích cả nước, là tỉnh nằm ở khu vực trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long; cách thành phố Hồ Chí Minh 136 km về phía Đông Bắc và thành phố Cần Thơ 40 km về phía Nam; vị trí địa lý nằm ở tọa độ từ 9o2’40” đến 10o39’48” vĩ Bắc và từ 105 độ 41’18” đến 106 độ 17’03” kinh Đông; Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Tiền Giang và Bến Tre; Phía Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh; Phía Tây Nam giáp giáp tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ; Phía Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp.
          Xét về mối quan hệ vùng, Vĩnh Long nằm ở khu vực trung tâm đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có tuyến giao thông thủy, bộ quan trọng nối liền TP. Hồ Chí Minh, TP. Cần Thơ và các tỉnh ĐBSCL. Đồng thời, vị trí điạ lý còn quy định nét đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ với các vườn trái cây trĩu quả, hệ sinh thái đa dạng với nhiều loài động, thực vật đặc trưng của vùng nhiệt đới. Đó là điều kiện thuận lợi để xây dựng các tuyến, điểm du lịch sinh thái miệt vườn.

1.2. Địa hình
          Vĩnh Long có địa thế trải rộng dọc theo sông Tiền và sông Hậu, thấp dần từ Bắc xuống Nam. Địa hình tương đối bằng phẳng (độ dốc nhỏ hơn 20), cao trình khá thấp so với mực nước biển. Cao trình tuyệt đối từ 0,6 đến 1,2m chiếm 90% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, phần còn lại là thành phố Vĩnh Long và thị trấn Trà Ôn có độ cao trung bình khoảng 1,25m. Đây là dạng địa hình đồng bằng ngập lụt cửa sông, tiểu địa hình của tỉnh có dạng lòng chảo ở giữa trung tâm tỉnh và cao dần về 2 hướng bờ sông Tiền, sông Hậu, sông Măng Thít và ven các sông rạch lớn. Không chịu ảnh hưởng của nước mặn và ít bị tác động của lũ. Phân cấp địa hình tỉnh có thể chia ra 3 cấp như sau:
          - Vùng có cao trình từ 1,0 đến 2,0m (chiếm 37,17% diện tích) ở ven sông Hậu, sông Tiền, sông Măng Thít, ven sông rạch lớn cũng như đất cù lao giữa sông và vùng đất giồng gò cao của huyện Vũng Liêm, Trà Ôn. Nơi đây chính là địa bàn phân bố dân cư đô thị, các khu công nghiệp, đầu mối giao thông thuỷ bộ.
          - Vùng có cao trình từ 0,4 đến 1,0m (chiếm 61,53% diện tích) phân bố chủ yếu là đất 2-3 vụ lúa với tiềm năng tưới tự chảy khá lớn, năng suất cao. Trong đó vùng phía Bắc quốc lộ 1A là vùng chịu ảnh hưởng lũ tháng 8 hàng năm, dân cư phân bố ít trên vùng đất này.
          - Vùng có cao trình nhỏ hơn 0,4m (chiếm 1,3% diện tích) có địa hình thấp trũng, ngập sâu. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chủ yếu lúa 2 vụ (lúa Đông Xuân - Hè Thu, lúa Hè Thu - Mùa).
          Với địa hình như thế là điều kiện khá thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật du lịch, cho hoạt động khai thác và phát triển du lịch. Đồng thời, địa hình bị chia cắt bởi các con sông lớn, nhỏ với các cù lao sông hình thành các vườn sinh thái miệt vườn đặc trưng, phục vụ cho sự phát triển du lịch.

1.3. Khí hậu
          Vĩnh Long nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25oC đến 27oC, nhiệt độ cao nhất 36,9oC, nhiệt độ thấp nhất 17,7oC. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm bình quân 7,3oC.
          - Bức xạ tương đối cao, bình quân số giờ nắng trong 1 ngày là 7,5 giờ. Bức xạ quang hợp hàng năm đạt 79.600 cal/m2. Thời gian chiếu sáng bình quân năm đạt 2.550-2.700 giờ/năm. Điều kiện dồi dào về nhiệt và nắng là tiền đề cho sự phát triển nông nghiệp trên cơ sở thâm canh, tăng vụ, phát triển vườn cây ăn trái nhiệt đới
          - Độ ẩm không khí bình quân 80-83%, tháng cao nhất (tháng 9) là 88% và tháng thấp nhất là 77% (tháng 3).
          - Lượng bốc hơi bình quân hàng năm của tỉnh khá lớn, khoảng 1.400-1.500 mm/năm, trong đó lượng bốc hơi bình quân theo tháng vào mùa khô là 116-179 mm.
          - Lượng mưa trung bình đạt 1.450 - 1.504 mm/năm. Số ngày mưa bình quân 100 - 115 ngày/năm. Về thời gian mưa có 90% lượng mưa năm phân bố tập trung vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 dương lịch).
          Với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, chế độ nhiệt tương đối cao phù hợp cho sự phát triển của các loài động, thực vật, tạo nên sự đa dạng về số lượng và loài. Đồng thời, tính chất theo mùa còn thuận lợi cho việc khai thác du lịch theo thời vụ.

1.4. Đất đai
          Đất đai của tỉnh Vĩnh Long được hình thành do kết quả trầm tích biển lùi Holocene (cách nay khoảng 5.000-11.200 năm) dưới tác động của sông Mekong. Theo kết quả điều tra khảo sát thổ nhưỡng của Chương trình Đất tỉnh Vĩnh Long năm 1990-1994, Vĩnh Long có 4 nhóm đất chính: đất phèn 90.779,06 ha (chiếm 68,94% diện tích), đất phù sa 40.577,06 ha (chiếm 30,81% diện tích), đất cát giồng 212,73 ha (chiếm 0,16% diện tích), đất xáng thổi 116,14 ha (chiếm 0,09% diện tích).
          Theo số liệu thống kê, tính đến ngày 1/1/2010, tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh có 147.912,7 ha được chia ra 5 loại đất sử dụng như sau (tỉnh không có đất lâm nghiệp): Đất nông nghiệp 116.180,6 ha, chiếm 78,6%; Đất chuyên dùng 9.163,9 ha, chiếm 6,2%; Đất ở nông thôn 5.502,3 ha, chiếm 3,7%; Đất ở đô thị 656,8 ha, chiếm 0,44%; Đất chưa sử dụng, 105,3 ha, chiếm 0,07%.
          Vĩnh Long có lượng cát sông và sét làm vật liệu xây dựng khá dồi dào. Cát sông chủ yếu phân bổ trên các sông Cổ Chiên, sông Tiền, sông Pang Tra, sông Hậu và sông Hậu nhánh Trà Ôn với tổng trữ lượng 129,8 triệu m3 (không kể những vùng cấm, tạm cấm và dự trữ sau năm 2010).
          Đất sét là nguyên liệu sản xuất gạch, ngói, gốm sứ có tổng trữ lượng khoảng 200 triệu m3, chất lượng khá tốt. Sét thường nằm dưới lớp đất canh tác nông nghiệp với chiều dầy 0,4 - 1,2 m và phân bổ ở hầu hết các huyện, thành phố.
          Với tài nguyên đất của tỉnh phù hợp với việc phát triển nông nghiệp, trồng các loài cây ăn quả, phù hợp với việc phát triển các vườn trái cây sinh thái. Nguồn tài nguyên khoáng sản chủ yếu là đất sét cũng góp phần phát triển các làng nghề gạch, gốm sứ.

1.5.Tài nguyên nước
          Tài nguyên nước ngầm: Theo kết quả nghiên cứu của một số công trình thăm dò thì nguồn nước ngầm ở Vĩnh Long rất hạn chế và chỉ phân bố ở một số khu vực nhất định. Các tầng nước ngầm của Vĩnh Long như sau:
          - Tầng nước ngầm ở độ sâu trung bình 86,4 m, nước nhạt phân bổ chủ yếu ở vùng ven sông Hậu và sông Tiền, bề dày tầng chứa nước không lớn. Trữ lượng khai thác tiềm năng khoảng 46.169 m3/ngày.
          - Tầng chứa nước phân bổ ở độ sâu trung bình 150 m, nước nhạt phân bổ khu vực ven sông Hậu và một số xã phía Nam tỉnh Vĩnh Long. Bề dầy tầng chứa nước khá lớn. Trữ lượng khai thác tiềm năng khoảng 86.299 m3/ngày.
           - Tầng chứa nước phân bổ ở độ sâu trung bình 333,2 m, chất nước kém không thể khai thác.
          - Tầng chứa nước phân bổ ở độ sâu trung bình 425 m. Bề dầy tầng chứa nước khá lớn. Đây là tầng chứa nước đang được khai thác nhiều bằng các giếng khoan công nghiệp. Trữ lượng khai thác tiềm năng khoảng 31.669 m3/ngày.
          - Tầng chứa nước phân bổ ở độ sâu trung bình từ 439 m trở xuống. Nước nhạt chỉ phân bổ ở khu vực thành phố Vĩnh Long (ven sông Tiền). Đây là tầng chứa nước đang được khai thác nhiều bằng các giếng khoan công nghiệp. Đặc biệt đây là tầng chứa nước khoáng. Trữ lượng khai thác tiềm năng khoảng 19.520 m3/ngày.
          Nước mặt: Với 91 sông, kênh, rạch trên địa bàn nguồn nước mặt của tỉnh Vĩnh Long được phân bổ đều khắp trong tỉnh. Ba con sông lớn cung cấp nước cho hệ thống kênh rạch này là:
          - Sông Cổ Chiên nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, có chiều rộng từ 800-2500m, sâu từ 20-40m với khả năng tải nước cực đại lên tới 12.000 - 19.000m³/s.
          - Sông Hậu chảy theo hướng Đông Bắc Tây Nam, song song với sông Cổ Chiên, chạy dọc theo phía Tây Nam của Tỉnh, sông có chiều rộng từ 1500-3000m, sâu từ 15 - 30m, khả năng tải nước cực đại lên tới 20.000 - 32.000m³/s.
          - Sông Măng Thít: gồm 1 phần kênh thiên nhiên, 1 phần kênh đào nối từ sông Cổ Chiên tại Quới An sang sông Hậu tại Trà Ôn, sông dài 47km, có bề rộng trung bình từ 110-150m, lưu lượng cực đại chảy ra và vào tại 2 cửa sông như sau: Phía sông Cổ Chiên: 1500-1600m³/s; Phía sông Hậu: 525-650m³/s.
          Chất lượng nước tại 3 con sông lớn này hoàn toàn ngọt, chế độ thuỷ văn điều hoà, lưu lượng dòng chảy thay đổi theo mùa, ít chịu chi phối của thuỷ triều, tuy bị ô nhiễm nhẹ nhưng hoàn toàn dùng cho sinh hoạt được khi đã qua công trình xử lý nước, như vậy với tất cả các đô thị, khu dân cư có 3 con sông này chảy qua đều có thể lấy nước mặt (xử lý đạt tiêu chuẩn) để phục vụ cho nhu cầu nước ăn uống, sinh hoạt, phục vụ cho sản xuất công nghiệp, du lịch, đây là những thuận lợi lớn mà ít tỉnh nào có được.
          Với nguồn nước dồi dào, phong phú là điều kiện thuận lợi cho việc sinh hoạt, tưới tiêu phục vụ phát triển nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi đặc biệt là về giao thông đường thủy và phát triển du lịch.[[1]]

1.6. Tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái
          Theo kết quả khảo sát 1460 đối tượng của đề tài về tính đa dạng của tài nguyên sinh vật tỉnh Vĩnh Long cho thấy: Về động vật, có 26,5% đánh giá là đa dạng, 64,5% đánh giá là bình thường và 9,0% đánh giá là không đa dạng; Về động vật quý hiếm, có 13,8% đánh giá đa dạng, 51,2% đánh giá bình thường và có 35% đánh giá không đa dạng; Về động vật nhập, có 13,7% đánh giá đa dạng, 39,5% đánh giá bình thường và đánh giá không đa dạng có 46,8%; Về cây nhiệt đới, có 29,9% đánh giá đa dạng, có 53,6% đánh giá bình thường, có 16,6% đánh giá không đa dạng; Về cây ăn quả, có 66,3% đánh giá đa dạng, có 33,7% đánh giá bình thường; Về nông sản, có 45,3% đánh giá đa dạng, có 42,3% đánh giá bình thường, có 12,4% đánh giá không bình thường. Như vậy, nhìn chung tài nguyên sinh vật của Vĩnh Long khá đa dạng, phong phú nhất là các loài động vật, cây ăn quả và nông sản.
Bảng 1.1: Đánh giá về tính đa dạng của tài nguyên sinh vật tỉnh Vĩnh Long
Đánh giá về tính đa dạng
Động vật
%
Động vật quý hiếm
%
Động vật nhập
%
Cây nhiệt đới
%
Cây ăn quả
%
Nông sản
%
Đa dạng
26.5
13.8
13.7
29.9
66.3
45.3
Bình thường
64.5
51.2
39.5
53.6
33.7
42.3
Không đa dạng
9.0
35.1
46.8
16.6
0
12.4
Tổng
100.0
100.0
100.0
100.0
100.0
100.0
 (Nguồn: Tổng hợp từ bảng 6-11, phần B -  Phân tích các biến ghép của bốn đối tượng thu thập thông tin)
          Cụ thể: Tài nguyên sinh vật của tỉnh Vĩnh Long gồm 218 loài thực vật bậc cao; có 103 loài động vật có xương sống trên cạn; 163 loài thực vật phiêu sinh; 59 loài động vật phiêu sinh; 35 loài động vật đáy; một số loài thuỷ sản như tôm càng xanh, cá tra, bông lau, tai tượng, trê, lóc, cá cóc, rô đồng, cá ngát, v.v.[[2]]
          Nằm trong vùng đất phù sa ngọt ở trung tâm của ĐBSCL. Vĩnh Long là tỉnh duy nhất trong vùng không có diện tích rừng tập trung, chỉ có khoảng 140 ngàn ha đất trồng cây phân tán. Giới sinh vật trên lãnh thổ của tỉnh hiện nay hầu hết được thay thế bằng hệ sinh thái nông nghiệp và các loại cây trồng. Vĩnh Long nổi tiếng với những vườn cây trái xum xuê trên các cù lao, vừa mang lại giá trị kinh tế nông nghiệp cao vừa là tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái bởi các sản phẩm nổi tiếng như bưởi Năm Roi, cam, quýt, nhãn tiêu, xoài, chôm chôm, sầu riêng, v.v.
          Hệ động vật trong tỉnh hiện tại cũng chủ yếu là các vật nuôi và sinh vật dưới nước. Đó là nguồn thủy sản nước ngọt, tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh có khả năng đánh bắt và nuôi thủy sản nước ngọt phục vụ cho các hoạt động kinh tế cũng như các hoạt động du lịch như tát mương bắt cá, câu cá, v.v. Tỉnh cũng có một số loại động vật quý hiếm như: chồn, rắn hổ, sóc, bìm bịp, cá sấu, v.v và một số loại động vật nhập: đà điểu, gà sao, khỉ, v.v. Vĩnh Long có các khu bảo tồn thiên nhiên, có các hội sinh vật cảnh phù hợp cho việc phát triển du lịch tham quan nghỉ dưỡng nghiên cứu, v.v.[[3]]



[1] Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long – vinhlong.gov.vn
[2] Lê Trình, Đánh giá tổng hợp tài nguyên và môi trường tỉnh Vĩnh Long, 2002
[3] Hiệp hội du lịch tỉnh Vĩnh Long - vinhlongtourism.vn
  • Blogger Comments
  • Facebook Comments

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Item Reviewed: Điều tra, phân tích tài nguyên du lịch sinh thái tỉnh Vĩnh Long Rating: 5 Reviewed By: AEP LienHiep